This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cách đúng xử trí sốt virut ở trẻ em

Sốt virut là bệnh gặp cốt yếu trong mùa hè ở trẻ, bệnh rất dễ lây qua đường hô hấp với triệu chứng điển hình là trẻ đột ngột sốt cao 39 - 40 độ C, kèm theo các triệu chứng khác như ho, chảy mũi, rối loạn tiêu hóa, nổi ban...

Triệu chứng

Biểu hiện thường gặp tại những trường hợp sốt do virut là trẻ thường sốt cao từ 38-39oC, thậm chí 40-41oC. Trong cơn sốt trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường. Khi hạ sốt trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường; đau mình mẩy: ở trẻ to thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc; đau đầu: một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, Nếu nguyên nhân gây sốt do virut đường tiêu hóa thì trẻ bị rối loạn tiêu hoá, đi ngoài, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhày. Ban đỏ thường có hiện tượng 2-3 ngày sau khi sốt, khi có hiện tượng ban thì sẽ đỡ sốt.

Diễn biến của sốt virut

Cơ thể trẻ em do chưa có sức đề kháng cao nên rất dễ bị nhiễm bệnh, trong những ngày hè, nhiều trẻ phải nhập viện do sốt virut là hiện tượng rất hay gặp tại khoa nhi các bệnh viện. Trong điều kiện thông thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... lúc gặp điều kiện dễ dàng chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh.

Một số loại virut thường gây sốt như: Myxo virut, Coxackie, Entero virut, sởi, ... Virut có thể lây từ người này sang người khác, nhất là là nhiễm virut qua đường hô hấp, tiêu hóa... có thể gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virut là sốt cao. Trong thuật ngữ y học thường gọi là sốt virut. Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ, sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.

Xử trí và bộ phận ngừa sốt do virut ở trẻ

Đối với các bệnh do virut gây ra gần như chưa có thuốc đặc hiệu, chính yếu là điều trị chứng, đối với sốt virut tại trẻ em cũng vậy. Do đó các biện pháp thường ứng dụng là:

- Cặp nhiệt độ: Đặt nhiệt kế ở nách hoặc hậu môn. Nhiệt kế phải được giữ trong nách ít nhất 3 phút, cánh tay của trẻ áp sát về ngực. Nhiệt độ của trẻ sẽ là số ghi trên nhiệt kế cộng thêm 0,3 - 0,4 độ. Thí dụ nhiệt kế ghi 38oC thì thân nhiệt thực sự của trẻ là 38,4oC.

Hạ sốt: Thường dùng paracetamol liều 10mg/kg, 6 giờ/1 lần.

Chườm mát cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Cởi quần áo, bỏ bớt chăn cho trẻ lúc đang sốt cao.

Lau bằng khăn ướt nước ấm: Dùng khăn mềm, sạch, nhúng nước ấm (1 cốc nước sôi + 3-3,5 cốc nước nguội) lau lên khắp mình trẻ; cho tới khi thân nhiệt xuống 37oC. Tuyệt đối không được chườm nước lạnh vì sẽ gây sốt cao thêm do cơ chế co mạch ngoại vi.

Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5oC thì sử dụng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, nhất là là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.

Bù nước và điện giải: Nếu trẻ còn bú tiếp tục cho bú nhiều hơn bình thường, và cho uống bù nước ORS (Oresol) theo chỉ dẫn. Trường hợp trẻ không uống được thì sử dụng bông sạch chấm nước trên về môi, miệng bé liên tục để niêm mạc môi, miệng hấp thu nước, tránh thiếu nước và chất điện giải.

Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.

Dinh dưỡng: Cần Quan tâm tới chế độ dinh dưỡng, nên cho trẻ ăn loãng như cháo, súp, uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả như cam, chanh...

Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong bộ phận kín.

Chú ý: Phải đưa trẻ đến khám ngay tại địa chỉ y tế khi có các dấu hiệu sau: khi trẻ sốt cao trên 38,5oC, nhất là là trên 39oC mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng. Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, có hiện tượng co giật, đau đầu liên tục và tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.

Sốt virut là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và trường học. Do đó, người bị sốt virut nên giảm thiểu tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Khi trẻ bị sốt virut cần cho trẻ nghỉ học đến lúc khỏi hẳn để tránh lây cho trẻ khác. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C để nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Ths Lê Hưng

Soda gây mất nước

Theo nghiên cứu mới của Tổ chức “American Physiological Society” các nhà nghiên cứu cho thấy soda gây mất nước. Để đi tới kết luận này các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trên 3 nhóm chuột đều có dấu hiệu mất nước. Nhóm chuột thứ nhất được cho uống nước không có gaz. Nhóm thứ 2 uống nước hào với stévia (một chất làm ngọt có nguồn gốc tự nhiên từ Nam Mỹ). Cuối cùng nhóm thứ 3 uống nước+ glucose + fructose (như nước soda). Sau 4 tuần những con chuột trong nhóm thứ 3 có dấu hiệu mất nước nặng hơn những con chuột trong nhóm thứ 1 và thứ hai với những triệu chứng: khô miệng, giảm cân, buồn ngủ, chán ăn, giảm lượng nước tiểu, mất phương hướng ... Kết quả nghiên cứu cho thấy soda gây mất nước. Công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí Y khoa chuyên lĩnh vực “American Journal of Physiology -Regulatory, Integrative and Comparative Physiology”

Ngoài ra có những khi khát tìm đến cốc bia hay rượu (ngay cả khi có ướp lạnh)- đây cũng là lựa chọn chẳng khôn ngoan chút nào! Khi uống về cơ thể không bù được nước mà ngược lại. Khi say (rượu, bia) gây mất cân bằng hormon, việc sản xuất vasopressin tại não bị rối loạn, do đó sẽ sản xuất nhiều nước tiểu, gây đi tiểu nhiều lần và làm nặng thêm tình trạng mất nước. Vì vậy khi quá nắng hay quá khát rất tốt nhất là nên uống cốc nước không có gaz.

Bs Ái Thủy

(http://www.topsante.com/medecine/medecine-divers/environnement-et-sante/les-sodas-favorisent-la-deshydratation-611784)

Có nên thường xuyên xông mũi họng bằng nước muối?

Nhà cháu có mua máy để xông mũi họng cho con cháu theo đơn của bác sĩ. Hiện nay, con cháu điều trị xong, máy để không. Cho cháu hỏi cháu có thể xông nước muối cho con cháu hàng ngày không ạ?

Đào Như Quỳnh(daoquynh@gmail.com)

Xông mũi họng ở trẻ nhỏ qua mặt nạ còn gọi là khí dung. Khí dung được dùng hỗ trợ trong chữa trị 1 số bệnh lý tại đường hô hấp cấp như viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, viêm xoang hoặc mạn tính như hen suyễn. Và nhờ vào xông khí dung, nhiều trẻ đã không cần phải sử dụng thuốc uống, giảm thiểu được phần lớn tác dụng phụ do thuốc gây ra. Đối với bệnh viêm mũi xuất tiết, chỉ cần xông hoặc nhỏ nước muối sinh lý là có thể khỏi. Còn các bệnh khác tùy theo cấp độ nặng nhẹ mà bác sĩ có chỉ định dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm… toàn thân kết hợp với khí dung để tăng thêm hiệu quả điều trị. Trường hợp con bạn đã khỏi bệnh rồi thì không nên lạm dụng máy xông khi không có chỉ định của bác sĩ. Một trong những biến chứng của việc xông mũi họng là có thể gây phản xạ co thắt phế quản ngay lúc đó. Ngoài ra, thủ thuật này cũng có những quy định chặt chẽ. Cụ thể, mỗi 1 lần khí dung thì phải thay bộ dây hoặc phải tiệt trùng dây, trong lúc tại nhiều gia đình chỉ sử dụng một cái hết tháng này qua tháng khác. Hậu quả là bộ dây có thể lắng đọng vi trùng và vô tình lại đưa thêm vào mũi họng trẻ, thành ra lợi bất cập hại.

BS. Vũ Ngọc Anh

Ngủ đủ giấc có lợi cho sức khỏe trẻ em

Theo khuyến cao của “American Academy of Sleep Medicine “ thời gian ngủ rất cần phải có cho sức khỏe của trẻ em và thanh thiếu niên. Tùy thuộc về các lứa tuổi không như nhau mà nhu cầu cũng khác nhau.

13 chuyên gia vào Giấc ngủ đã tiến hành phân tích 864 bài báo liên quan về giấc ngủ để khuyến cáo thời gian ngủ thiết yếu và đầy đủ cho trẻ em và thanh thiếu niên. Theo các chuyên gia thì thời gian ngủ trảo đổi tùy theo từng lứa tuổi.

tre ngu du giac

Trẻ sơ sinh từ 4-12 tháng cần có 12-16 giờ ngủ kể cả giấc ngủ trưa.

Trẻ em từ 1-2 tuổi cần 11-14 giờ mỗi ngày kể cả ngủ trưa.

Trẻ em 3-5 tuổi cần ngủ 10-13 giờ mỗi ngày kể cả giấc ngủ trưa.

Trẻ em từ 6-12 tuổi cần ngủ từ 9-12 giờ một ngày.

Thanh thiếu niên từ 13-18 tuổi nên ngủ từ 8-10 giờ mỗi ngày.

Theo Giáo Sư Shalini Paruthi-chuyên ngành nghề Nhi khoa và Thành viên Hiệp hội Giấc ngủ của Mỹ cho biết “Giấc ngủ là cấp thiết cho sức khỏe, điều cần thiết là nên có thói quen tốt này ngay từ lúc còn thơ ấu”.

Thời gian ngủ mỗi ngày ở từng độ tuổi cần phải tuân thủ để có sức khỏe tốt và một tinh thần minh mẫn. Khi trẻ ngủ đủ giấc sẽ cố gắng được sự tập trung chú ý, khả năng tiếp thu bài, trí nhớ, tâm trạng, sức khỏe về tinh thần cũng như thể chất và điều cấp thiết là nâng cao chất lượng cuộc sống.

Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng thiếu ngủ gây ra nhiều hệ lụy, nhất là các tai nạn giao thông, tăng huyết áp, đái đường, trầm cảm… Các chuyên gia tiếp nhân thấy rằng sự thiếu ngủ ở thanh thiếu niên làm nâng cao nguy cơ có những ý nghĩ tự tử hoặc  tự tử. Cuối cùng theo các chuyên gia thì cần bảo đảm thời gian ngủ cho trẻ và đây là phương cách tốt nhất giúp trẻ phát triển cả vào thể lực và trí lực!

 

 

 

 

Bs Ái Thủy

Ăn sáng mang lại sức sống cho bạn

Những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe khi ta bỏ bữa ăn sáng như sau:

Không ăn sáng gây hạ đường huyết: cơ thể trải qua một đêm ngủ yên, chất dinh dưỡng trong cơ thể đã tiêu sạch, nồng độ đường huyết dưới trạng thái hơi thấp, không ăn sáng hoặc ăn sáng qua loa, không thể bù đủ đường huyết kịp thời, buổi sáng sẽ có hiện tượng các triệu chứng váng đầu hồi hộp, tay chân mất sức, tinh thần không tập trung, ảnh hưởng làm việc bình thường.

Không ăn sáng gây béo phì: một số người cho rằng không ăn sáng có thể giảm năng lượng đầu vào, theo đó sẽ giảm béo phì. Thật ra, bạn không ăn sáng, thường đến khi ăn trưa, bạn sẽ ăn một cách không kiềm chế vì đói khát, trái lại làm cho cơ thể thừa năng lượng, không chỉ khó giảm béo, mà còn dễ gây béo phì.

Không ăn sáng dễ mắc bệnh sỏi: điều tra cho thấy, tương đối nhiều người mắc bệnh sỏi túi mật do không ăn sáng hoặc ít lúc ăn sáng. Bụng đói chỉ mất khoảng quá dài, giảm bài tiết dịch mật, nhưng hàm lượng cholesterol vẫn không thay đổi, lâu ngày, túi mật chứa quá nhiều dịch mật sẽ chuyển thành những hạt sỏi gây bệnh.

Không ăn sáng dễ mắc bệnh tim - não: qua một đêm ngủ dài, cơ thể mất đi nhiều nước do hít thở, bài tiết nước tiểu, ví dụ như không ăn sáng hoặc không uống nước, dẫn tới giảm dung lượng máu, máu nâng cao độ quánh, dễ hình thành những huyết khối nhỏ, làm tắc nghẽn mạch máu tim - não, theo đó gây ra bệnh.

an sang

Không ăn sáng dễ mắc bệnh tiêu hóa: không ăn sáng, có thể làm thay đổi “nhịp sinh học” của hệ tiêu hóa, trảo đổi nhu động đường ruột và bài tiết dịch tiêu hóa, dịch vị trong dạ dày không được trung hòa, sẽ gây kích thích không rất tốt với niêm mạc khi bụng đói, gây ra viêm dạ dày, nghiêm trọng hơn sẽ gây lở loét dạ dày.

Không ăn sáng ảnh hưởng trí tuệ: có báo cáo cho biết, dưới tình trạng trí tuệ (IQ) không chênh lệch nhiều, những sinh viên ăn sáng trí tuệ cao hơn thấy rõ so với những ai không hoặc ít ăn sáng. Bởi vì không ăn sáng, bộ não sẽ thiếu dinh dưỡng và năng lượng, không thể hoạt động và phát triển bình thường, lâu dần sẽ gây hại cho trí nhớ và trí tuệ. Quan trọng hơn, chất dinh dưỡng và năng lượng từ bữa ăn sáng chiếm 1 vị trí cần thiết trong việc đem đến chất dinh dưỡng và năng lượng cho cả ngày. Những thử nghiệm có liên quan đã chứng minh rằng, ăn sáng hấp thu dinh dưỡng không đủ sẽ rất khó bổ sung từ các bữa ăn khác, không ăn sáng hoặc ăn sáng thiếu chất lượng là 1 trong những nguyên do gây ra thiếu dinh dưỡng và năng lượng đầu vào cho cả ngày. Nghiêm trọng hơn còn gây ra thiếu dinh dưỡng, chẳng hạn bệnh suy dinh dưỡng, thiếu máu do thiếu sắt…

Không ăn sáng ảnh hưởng tuổi thọ: con người sống lâu được chi phối bởi “đồng hồ sinh học”, không ăn sáng sẽ làm đảo lộn sự hoạt động của đồng hồ sinh học, cơ thể không được bổ sung chất dinh dưỡng kịp thời, chức năng sinh lý sẽ suy giảm, bên cạnh các loại bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe do không ăn sáng gây ra, tất cả đều ảnh hưởng tới tuổi thọ.

Ăn sáng hấp thu năng lượng chiếm 30% năng lượng cả ngày, trải qua 1 đêm ngủ dài, cơ thể có 10 tiếng đồng hồ 1 mực tiêu hao năng lượng mà không đầu vào, thời điểm này cần bữa ăn sáng giàu cacbonhydrate tái bổ sung, tích trữ năng lượng.

Sáng sớm ngoài việc uống đủ nước, cần để ý sự phối hợp của các loại thức ăn. Một bữa ăn sáng thịnh soạn đủ chất dinh dưỡng là cách chọn phối hợp hợp lý bao gồm: bánh mì, cháo, thịt, trứng, sữa, sữa đậu, rau tươi và trái cây. 

LY.DS. BÀNG CẨM

Lợi hại của việc ăn cay

Cháu rất thích ăn cay, nếu như bữa ăn không có ớt hay tiêu thì ăn không thấy ngon. Cháu đọc báo thấy ăn cay có rất nhiều ích lợi cho sức khoẻ, nhưng mẹ cháu thì lại nói ngược lại. Bác sĩ có thể giải thích rõ giúp cháu được không?

Mai Thu Hoa (Nghệ An)

Báo nói đúng và mẹ cháu cũng đúng, bởi ngoài các tác hại thì chính các chất cay lại có những ích lợi rất bất ngờ cho sức khoẻ. Trước tiên nói vào tác hại của chất cay. Ai cũng biết, chất cay thường gây nóng, hút ẩm cao nên những người hay ăn cay da thường khô và dễ nổi mụn. Vị cay, nhất là là vị cay của ớt, có thể gây bỏng da nếu ở mức độ đậm đặc. Niêm mạc dạ dày rất nhạy cảm, vì thế, ví dụ ăn quá cay chắc chắn sẽ có hại cho niêm mạc dạ dày, đồng thời ảnh hưởng đến men tiêu hoá của dạ dày, gây khó tiêu. Chất cay nhất là có hại đối với thai phụ và sản phụ: Khi mang thai nếu thường xuyên ăn cay sẽ dễ gây bệnh dị ứng cho con sau này. Còn khi cho con bú nếu như ăn quá cay sẽ ảnh hưởng tới trẻ qua sữa, mẹ bị bốc hoả trong cơ thể còn con cũng nóng trong người, khó ngủ, hay quấy khóc. Tuy nhiên, bên cạnh các tác hại thì chất cay cũng có nhiều ưu thế nếu như chúng ta dùng tại mức hợp lí như: giảm cân do chất cay có khả năng sinh nhiệt rất lớn, giúp đốt cháy nhiều calo hơn ngay sau bữa ăn; giảm đau; ngừa tai biến tim mạch, hạ huyết áp và giảm lượng cholesterol do chứa các hoạt chất giúp máu lưu thông tốt; hạn chế mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cảm cúm; kháng viêm, chống suy nhược; nỗ lực hệ tiêu hoá...

BS. Cẩm Nga

Vì sao mẹ bầu dễ mắc bệnh răng lợi?

Viêm răng lợi thường xảy ra ở thời kỳ đầu mang thai. Nguyên nhân cốt yếu là do lúc có thai, hai nội tiết tố là estrogen và prosestin tăng nhiều khiến mao mạch ở răng lợi phình to ra, gấp khúc, tính đàn hồi giảm yếu dẫn đến huyết dịch ứ trệ và tính thẩm thấu của thành mao mạch tăng thêm khiến lợi dễ bị viêm và chảy máu. Nếu không chú ý giữ vệ sinh răng miệng đúng cách cũng khiến tình trạng viêm răng lợi thêm trầm trọng.

Viêm răng lợi có thể ngày một nặng thêm cùng với sự tiến triển của thai kỳ. Sau lúc sinh, mức estrogen và prosestin hạ thấp, tình trạng viêm và chảy máu răng sẽ giảm hoặc không xuất hiện nữa.

Để bộ phận ngừa, thai phụ cần Quan tâm giữ vệ sinh răng miệng thường xuyên, đánh răng ít nhất hai lần/ngày. Nên chọn loại bàn chải mềm, đánh răng theo chiều từ chân răng dọc theo kẽ răng, chải nhẹ nhàng để không làm tổn thương lợi. Sử dụng thêm chỉ tơ nha khoa để lấy đi thức ăn thừa còn giắt trong kẽ răng mà bàn chải không làm sạch được. Súc miệng bằng nước muối sinh lý sau khi đánh răng.

Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ví dụ lợi dễ bị chảy máu cần chú ý chọn thức ăn mềm hoặc nấu nhừ để ít phải nhai nhiều tránh tổn thương răng lợi và dễ tiêu hóa. Ăn nhiều rau xanh và trái cây tươi để nâng cao cường vitamin C cho cơ thể.

Nếu bị viêm lợi thường xuyên chảy máu hoặc có vết trợt loét cần tới bác sĩ chuyên khoa răng để khám và điều trị phù hợp.

BS. Nguyễn Thị Hoa