This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

10 lý do tuyệt vời nên cho con học khiêu vũ

Khiêu vũ không chỉ là bộ môn say mê của người lớn mà ngay cả con trẻ. Thật vậy việc học khiêu vũ đem lại những ích lợi tuyệt vời cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

1. Giúp trẻ luôn vận động, là một hình thức tập luyện

Khiêu vũ là môn học nghệ thuật nhưng cũng là môn “thể thao” thật sự. Trong khiêu vũ trẻ luôn phải di chuyển, phải vận động và đây cũng là cách giúp trẻ diễn tả chính bản thân mình. Có những lớp học cho những trẻ nhỏ gọi là “điệu nhảy sáng tạo”. Khiêu vũ như là những bài tập aerobic đặc biệt rất tốt cho trẻ béo phì vì khiêu vũ giúp trẻ lấy lại được thân hình “gọn gàng hơn” còn giúp trẻ duy trì những thói quen rất tốt trong cuộc sống. Khiêu vũ chính là môn thể thao nghệ thuật giúp tiêu hao bớt năng lượng và điều này rất tốt cho trẻ nam lẫn nữ.

2. Giúp trẻ tập trung

Thật vậy khiêu vũ đòi hỏi trẻ phải làm việc cả đầu óc lẫn cơ thể. Trẻ phải học từng điệu nhảy và phải theo 1 trật tự, phải lắng nghe huấn luyện viên và phải sữa chữa những sai sót trong từng điệu nhảy. Người ta thường nói khiêu vũ đem lại “sự vận động thông minh” nhưng không phải chỉ dừng ở đó, khiêu vũ còn giúp trẻ phát triển trí thông minh về không gian, vào âm nhạc và cả ngôn ngữ. Ngoài ra còn giúp trẻ tập trung hơn và chăm chỉ để đạt được mục tiêu. Khiêu vũ không chỉ giúp phát triển kỹ năng vận động thô mà còn là 1 cách tuyệt vời để tìm hiểu sự cân bằng và phối hợp trong từng động tác.

10-ly-do-khien-ban-cho-con-hoc-khieu-vu

3. Trẻ thường có điểm mạnh ở trường

Một nghiên cứu gần đây của “The College Board” cho thấy rằng những học sinh có tham dự những buổi học khiêu vũ thường có những thành công nhất định trong học tập, những điểm số vào toán học và khoa học tự nhiên cũng cao hơn và kỹ năng vào đọc và lý luận cũng được cố gắng đáng kể.

4. Giúp trẻ có tinh thần tập thể

Khiêu vũ giúp trẻ phát triển trí thông minh song song phát triển tinh thần tập thể, trẻ được sinh hoạt với các bạn bè cùng lứa tuổi, không những thế giúp trẻ xây dựng tình bạn chân tình và bền lâu.Thông qua những buổi học giúp trẻ phát triển những giao tiếp xã hội, điều nhu yếu là khi làm việc nhóm giúp trẻ phát huy tinh thần đồng đội, tính tự giác kỷ luật và xây dựng lòng tự tin.

5. Giúp trẻ hiểu thêm về âm nhạc

Khiêu vũ là cách hoàn hảo nhất giúp trẻ hiểu thêm vào âm nhạc. Trong lúc bước đi theo từng điệu nhạc đã giúp trẻ đếm nhịp và hiểu âm nhạc 1 cách bài bản hơn!

6. Giúp trẻ có được thân hình cân đối khỏe mạnh

Khiêu vũ đòi hỏi phải vận động toàn cơ thể. Thật vậy khiêu vũ giúp trẻ sữa chữa những dị tật như bàn chân bị vẹo vào trong… bên cạnh đó giúp trẻ khám phá hiểu hơn vào chính cơ thể mình. Khiêu vũ giúp cơ thể được mềm mại linh hoạt hơn, giúp trẻ phối hợp nhịp nhàng giữa cân bằng, sức chịu đựng cơ thể và hoạt động của các cơ.

7. Giúp trẻ xây dựng lòng tự trọng

Trẻ trải qua những lớp học khiêu vũ sẽ tự tin hơn nhất là là khả năng, năng lực của bản thân. Khiêu vũ giúp trẻ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa từ đó trẻ mô tả bản thân, suy nghĩ vào cuộc sống 1 cách tích cực hơn.

8. Giúp trẻ có những trải nghiệm cùng bạn bè

Vào những dịp kết thúc năm học, Trường tổ chức những buổi văn nghệ và như vậy trẻ có cơ hội để thể hiện những khả năng vào khiêu vũ, âm nhạc trên sân khấu. Là dịp để trẻ cùng vui chơi với bạn bè, được tán thưởng với những tràng vỗ tay và hơn thế nữa trẻ cảm nhận được những thành công nho nhỏ sau những ngày luyện tập.

9. Giúp trẻ giảm bớt những căng thẳng

Những hoạt động thể chất giúp trẻ giảm stress và tìm được cảm giác thư thái trong tâm hồn sau những giờ học tập. Khi trẻ hòa mình về điệu nhạc, khi đó đầu óc được thoả thích và những mệt mỏi căng thẳng “không cánh mà bay”.

10. Giúp trẻ được trau giồi và cơ hội phát triển

Khiêu vũ cũng là cơ hội vàng giúp trẻ phát triển, dần dần trẻ sẽ có những đam mê, sẽ tìm ra những vũ công tuyệt vời, những điệu nhảy đẹp, những biên đạo múa nổi tiếng…và có thể trẻ tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật.

BS. Ái Thủy

(Theo Maman Pour La Vie)

Đau dưới ức và trên rốn là bệnh gì?

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Hoà, bệnh nhân viêm loét dạ dàythường có các triệu chứng sau:

- Có cảm giác cồn cào hoặc đau rát (khó tiêu) tại phía bụng trên (hay còn gọi là đau thượng vị): một số người có biểu hiện rõ như có vị chua hoặc nóng rát dạ dày. Ăn về có thể gây nặng hơn hoặc nỗ lực được những khó chịu.

- Nôn, buồn nôn.

- Cảm giác chán ăn, cơ thể suy nhược: Hiện tượng chán ăn có thể là do cơ thể mệt mỏi. Tuy nhiên tại phần lớn người, lúc dạ dày bị tổn thương, dạ dày không muốn nạp thức ăn, đồng thời không tiết dịch vị, từ đó sẽ dẫn đến những hệ quả liên quan như miệng đắng, không có vị, mất cảm giác.

- Ợ hoặc chướng bụng: đây là 1 triệu chứng bệnh đau dạ dày thường gặp tại các bệnh nhân. Nếu tự nhiên mà bạn bị ợ và chướng bụng liên tục nên đi kiểm tra bác sỹ ngay. Đặc biệt là hiện tượng ợ chua là biểu hiện đau dạ dày của đa số người khi mới mắc phải. Ợ chua là hiện tượng dịch acid ở dạ dày trào ngược lên thực quản và lên miệng khiến bệnh nhân có cảm giác đau, nóng rát như lửa đốt sau xương ức, lan lên họng và đắng ngắt trong miệng. Ợ chua cũng là dấu hiệu cảnh báo vào các chứng bệnh trào ngược dạ dày thực quản.

- Cảm giác đầy vùng bụng trên sau lúc ăn.

Bất đồng nhóm máu mẹ con: Phòng ngừa và chữa trị

Bất đồng nhóm máu mẹ con hay nhóm máu không tương xứng Rhesus (Rh) là khi 1 người mẹ có nhóm máu Rh âm nhưng mang thai đứa con có nhóm máu Rh dương dẫn tới hiện tượng huyết tán tại trẻ sơ sinh (bệnh Rhesus).

Vì sao lại có hiện tượng bất đồng nhóm máu mẹ con?

Yếu tố Rhesus (Rh) là 1 kháng nguyên hay protein đặc biệt trên bề mặt của các tế bào hồng huyết cầu. Đây là 1 cơ chế bảo vệ giúp cơ thể phân biệt máu của chính mình. Mỗi người đều được thừa hưởng các gene từ cha mẹ của mình để xác định nhóm máu, cũng như xu thế có kháng nguyên này hay không.

Trẻ sơ sinh bị bệnh tán huyết cần phải điều trị bằng đèn chiếu.

Trong máu của mỗi người đều có nhân tố Rh dương hoặc Rh âm. Các kháng nguyên D có mặt trong 85% dân số, nghĩa là phần lớn dân số có nhóm máu dương. Trong 15% còn lại, không có các kháng nguyên D, nghĩa là những người trong số này có nhóm máu âm. Vấn đề phát sinh khi một người mẹ có nhóm máu âm nhưng mang thai đứa con có nhóm máu dương. Bệnh Rhesus, còn gọi là bệnh tán huyết ở trẻ sơ sinh, là một biến chứng có thể diễn ra lúc người mẹ sản xuất kháng thể chống lại các tế bào hồng cầu có Rh dương của em bé.

Nếu người mẹ có Rh âm kết hợp với người cha cũng có Rh âm thì lúc thụ thai, em bé sẽ không có vấn đề gì. Em bé cũng sẽ có nhóm máu có Rh âm nên không có việc sản xuất kháng thể. Tương tự, lúc người mẹ có Rh dương thụ thai một em bé với 1 người đàn ông có Rh âm thì cũng không có vấn đề gì xảy ra. Những ông bố có nhóm máu dương có thể mang một gene dương và 1 gene âm. Vì dương chiếm thế mạnh nên nhóm máu của những ông bố này được phân loại là dương. Con cái của những người này sẽ có cơ hội tương đương 50:50 là dương hoặc âm. Nhưng ví dụ người bố có 2 gene dương thì toàn bộ các con của ông sẽ là Rh dương.

Bệnh Rhesus xảy ra như thế nào?

Khi người mẹ có Rh âm tiếp xúc với máu của đứa con có Rh dương, người mẹ có khả năng sẽ có phản ứng miễn dịch. Trong suốt thai kỳ khỏe mạnh bình thường cho đến lúc sinh, thông thường sẽ không có trường Hợp máu mẹ và máu con tiếp xúc hòa lẫn với nhau. Tuy nhiên, ngoài quá trình chuyển dạ sinh con cũng có những khi trường Hợp này có thể xảy ra.

Những bà mẹ có Rh âm bị chảy máu âm đạo trong quy trình mang thai hoặc những người đã từng đình chỉ thai vẫn có khả năng phơi nhiễm máu Rh dương của thai nhi. Cũng giống như cách mà một người bị dị ứng với thức ăn nào đó có phản ứng chống lại thức ăn đó, ở đây, cơ thể của người mẹ sẽ phản ứng với các kháng nguyên lạ tới từ máu của đứa con.

Khi đó cơ thể người mẹ sẽ sản xuất ra các kháng thể, gọi là kháng thể anti D để chống lại các tế bào hồng cầu mang Rh dương của em bé xâm nhập về các hệ thống của cơ thể mình. Nếu trong tương lai, người mẹ mang thai em bé tiếp theo có Rh dương thì các kháng thể anti D có sẵn này sẽ đi qua nhau thai và tấn công các tế bào hồng cầu của em bé gây ra bệnh tán huyết. Những em bé sơ sinh bị huyết tán (bệnh Rhesus) nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây nguy hiểm tính mạng.

Ðiều trị bệnh huyết tán ở trẻ sơ sinh (bệnh Rhesus)

Các em bé bị bệnh này sinh ra sẽ bị thiếu máu và vàng da, nghĩa là do dự trữ sắt không đủ và nồng độ bilirubin trong máu cao. Những em bé này thường phải được truyền máu (thay máu). Đây là 1 việc cần phải được chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Việc này sẽ giúp gặt đi các kháng thể anti D.

Trẻ sơ sinh bị bệnh tán huyết cũng có thể cần điều trị bằng đèn chiếu và giám sát chặt chẽ nồng độ sắt và bilirubin trong máu. Nếu em bé bị bệnh tán huyết nặng, nó có thể gây sẩy thai hoặc em bé bị chết lưu. Lượng bilirubin cao có thể vượt qua máu di chuyển đến não và gây tổn thương não (bệnh vàng da nhân).

Có thể phòng ngừa cho các lần mang thai sau?

Bệnh Rhesus có thể được ngăn chặn lúc người mẹ mang Rh âm được tiêm một hợp chất đặc biệt gọi là kháng thể anti D, trong vòng 72 giờ sau khi sinh em bé. Nó sẽ giúp ngăn cản cơ thể người mẹ sản xuất kháng thể kháng Rh dương có khả năng gây ra các khiếu nại cho những lần mang thai tiếp theo. Mặc dù vậy, với các bà mẹ có Rh âm thì việc xét nghiệm máu để xác định mức độ kháng thể anti D sẽ được thực hiện định kỳ trong suốt các thai kỳ tiếp theo.

Tiêu chuẩn quy định khám tiền sản cho các bà mẹ về giai đoạn sớm của thai kỳ là kiểm tra nhóm máu. Nếu người mẹ có nhóm máu âm, điều này sẽ được ghi về hồ sơ và sau đó, về khoảng tuần thứ 28 của thai kỳ, mẹ sẽ được xét nghiệm máu lại để xem đã có kháng thể hay chưa.

Việc tiêm anti D cho người mẹ là đặc biệt thiết yếu vì nếu không thì các em bé của người mẹ này trong các lần thai sau có thể bị ảnh hưởng. Nếu em bé bị bệnh tán huyết nặng, có thể bị sẩy hoặc bị chết lưu.

BS. Trần Kim Anh

Tổn thương võng mạc do đái tháo đường

Gây ra những biến chứng gì?

Bệnh ĐTĐ, nhất là là ĐTĐ týp 2, gây ra cho người bệnh rất nhiều các biến chứng nặng nề, có những biến chứng gây tử vong và tàn phế suốt đời cho bệnh nhân.

Biến chứng trên thận: gây tiểu ra albumine, tổn thương các vi cầu thận và cuối cùng là suy thận mạn tính. Suy thận do ĐTĐ rất khó điều trị, ngay cả việc ghép thận thì tiên lượng thành công cũng rất giảm thiểu vì bệnh ĐTĐ vẫn tiếp tục diễn tiến trên bệnh nhân.

Hình chụp các tổn thương trên võng mạc lúc bị võng mạc đái tháo đường

Nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ: ví dụ không điều trị rất tốt sẽ gây hoại thư phải cắt cụt chi, thậm chí gây tử vong do nhiễm trùng huyết.

Tác hại trên tim mạch: kết hợp với những rối loạn trong chuyển hóa chất béo gây nên tình trạng xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim…

Gây rối loạn cương dương: biến chứng này làm giảm chất lượng cuộc sống và tan vỡ hạnh phúc gia đình.

Mù lòa do tổn thương võng mạc

Bệnh võng mạc ĐTĐ càng ngày gia tăng tại các nước công nghiệp phát triển và tại Việt Nam, mức độ này tỉ lệ thuận với mức sống của nhân dân và mức độ mắc bệnh ĐTĐ trong cộng đồng. Theo các tác nhái Thụy Điển thì có tới 26,5% số ca bệnh ĐTĐ týp 2 dưới 70 tuổi bị tổn thương võng mạc và có nguy cơ mù lòa vĩnh viễn ví dụ không được điều trị kịp thời.

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của BS. Trần Xuân Đài ở BV. Nhân Dân Gia Định thì tỉ lệ tổn thương võng mạc của bệnh nhân ĐTĐ là 39,28% tổng số bệnh nhân ĐTĐ. Một nghiên cứu khác của BS.Nguyễn Thị Tuyết Minh thực hiện trên 250 bệnh nhân tại bộ phận khám mắt BV. Chợ Rẫy thì có đến 25,2% số bệnh nhân ĐTĐ týp hai bị tổn thương võng mạc. Trong đó, phần lớn bệnh nhân, tỉ lệ là 79,4% bị cả 2 mắt.

Ở các nước phương tây, bệnh võng mạc do ĐTĐ là nguyên do bậc nhất gây mù lòa tại người dưới 65 tuổi, tỉ lệ mù trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 là 2,3%. Trong khi đó ở Việt Nam thì tỉ lệ mù chung do viêm màng bồ đào và bệnh đáy mắt là 4.2%, xếp thứ 4 trong các nguyên nhân gây mù lòa. Hơn nữa, đục thủy tinh thể hay kết hợp với bệnh võng mạc do ĐTĐ làm cho bệnh nhân dễ bị mù lòa hơn.

Điều trị

Tổn thương võng mạc là 1 trong những biến chứng của bệnh ĐTĐ nên không chỉ điều trị tại mắt mà phải kết hợp điều trị hạ đường huyết, hạ huyết áp, điều chỉnh mỡ trong máu. Khi đã có tổn thương võng mạc, dù đường huyết đã xuống mức bình thường, bệnh võng mạc vẫn không ngừng tiến triển nên không thể bỏ qua việc tái khám mắt.

Bệnh nhân ĐTĐ phải được khám mắt ngay khi phát hiện bệnh và tái khám định kỳ hàng năm.

Khi có tổn thương võng mạc, cần theo dõi sát hơn, có thể khám mỗi 3 tháng hoặc 6 tháng tùy theo tổn thương thấy được trên hình chụp mạch máu đáy mắt huỳnh quang.

Điều trị tổn thương võng mạc bằng laser nhiều đợt giúp bộ phận ngừa mù lòa bằng cách ngăn chặn sự phát triển tân mạch gây xuất huyết trong mắt, giảm phù hoàng điểm. Vì phải điều trị lâu dài nên rất cần sự hợp tác và hiểu biết của bệnh nhân và thân nhân.

Khi bệnh đã nặng, xuất huyết và nâng cao sinh nhiều trong mắt, cần mổ làm sạch máu và tổ chức nâng cao sinh nhưng khả năng mù vẫn rất lớn.

Lời khuyên của thầy thuốcNên đi khám bệnh lúc thấy các dấu hiệu nghi ngờ khả năng ĐTĐ: mờ mắt, gầy sụt cân, tiểu nhiều, nhiễm trùng dai dẳng, ngứa da không trị được bằng các thuốc thông thường… với những bác sĩ có kinh nghiệm. Bạn sẽ được cho làm các xét nghiệm tầm soát bệnh ĐTĐ: định lượng đường trong máu, định lượng đường trong nước tiểu, nghiệm pháp dung nạp glucose…Khi đã bị bệnh ĐTĐ, cần có chế độ ăn kiêng thich hợp được giải đáp bởi bác sĩ dinh dưỡng hoặc bác sĩ nội tiết. Cần phải sử dụng thuốc đều đặn để ổn định lượng đường trong máu, khám định kỳ về mắt tại các trung tâm chuyên khoa vào bệnh võng mạc do ĐTĐ để phát hiện và điều trị kịp thời các biến chứng về mắt, nhất là vào những năm thứ 5 trở đi sau lúc xuất hiện bệnh ĐTĐ..

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

(Cố vấn BV. Quốc tế Minh Anh)

Ngải cứu có thể tốt với phụ nữ động thai nếu sử dụng đúng cách

BS. Nguyễn Mai Hương - Nhi khoa - Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em - Bộ Y tế, cho biết:

Đúng là ngải cứu có không ít tác dụng đối với sức khỏe, nhất là là tác dụng với bà bầu. Ngải cứu là một trong những bài thuốc hiệu quả đối với những phụ nữ bị động thai hoặc sảy thai liên tiếp nhiều lần.

Tuy nhiên ngải cứu chỉ rất tốt cho sức khỏe bà bầu nếu như sử dụng đúng cách và đúng liều lượng như sau:

Số lượng ngải cứu cần dùng khoảng 3 - 5 ngọn mỗi lần và chỉ nên ăn 3 lần/tuần.

Nếu bạn có tiền sử bị sảy thai, sinh non thì giảm thiểu dùng ngải cứu

Ngoài ra ngải cứu có thể dùng món trứng gà ngải cứu vì đây là món ăn rất bổ dưỡng cho sức khỏe mang thai

Ngải cứu có tác dụng an thai nhất là trong trường hợp bạn bị đau bụng, ra máu thì nên sử dụng bài thuốc sau: Lá ngải cứu 16g, tía tô 16g cho vài 600ml nước sắc lấy 100ml và uống thành 3 - 4 lần trong ngày (nếu khó uống bạn có thể pha thêm chút đường).

BS. Nguyễn Mai Hương

(Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em)

Sai lầm của cha mẹ làm con không cao

Chương trình giải đáp truyền hình trực tuyến của báo Sức khỏe và đời sống với chủ đề “Dinh dưỡng giúp nỗ lực chiều cao” đã lôi kéo sự tham dự của phần nhiều khán giả, độc nhái trên khắp cả nước. Trong suốt 2 giờ đồng hồ xảy ra chương trình, các vị chuyên gia gồm PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng bộ môn Nhi trường Đại học Y Hà Nội; ThS.BS Đinh Ngọc Hoa, bác sĩ chuyên khoa Nhi, Bệnh viên Đa khoa Xanh Pôn; ThS.BS. Lê Thị Hải, Nguyên Giám đốc Trung tâm Khám giải đáp Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã hỗ trợ tư vấn nhiều câu hỏi của độc giả. Chương trình có sự đồng hành của nhãn hàng Vipteen.

Theo Ths Lê Thị Hải, chiều cao phản ánh thước đo sức khỏe của con người. Chiều cao của cả nam và nữ người Việt Nam thấp hơn khoảng 10cm so với các nước trong khu vực, chỉ đạt 164 cm đối với nam và 154cm đối với nữ. Để có 1 đứa trẻ cao to thông minh, các bậc cha mẹ cần có kiến thức trong việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ.

Cha mẹ cần nhớ 3 nhân tố và 3 giai đoạn phát triển chiều cao ở trẻ

Một người thông thường có 3 giai đoạn phát triển chiều cao. Đó là giai đoạn bào thai, giai đoạn 2 từ khi chào đời đến khi hai tuổi và giai đoạn 3 là giai đoạn tiền dậy thì, bé gái thường rơi về từ 10-13 tuổi, bé trai từ 13-17 tuổi. Muốn trẻ cao lớn, cha mẹ cần để ý đến con của mình ngay từ giai đoạn bào thai, mẹ cần ăn đủ chất dinh dưỡng, các nhóm thực phẩm, các vi chất dinh dưỡng như canxi, vitamin D hoặc bổ sung sữa, tránh cho trẻ còi xương ngay từ trong bụng mẹ. Ths Hải chia sẻ, giai đoạn tiền dậy thì được coi là giai đoạn vàng để “tăng tốc chiều cao” cho trẻ, giai đoạn này, có trẻ có thể tăng từ 10-15cm trong vòng 1 năm. Nhiều bố mẹ thường chỉ quan tâm chăm sóc khi các cháu còn nhỏ và thường lơ là giai đoạn này không bổ sung thêm thực phẩm, dinh dưỡng cho các cháu khiến cháu không thể phát triển chiều cao.

Để tăng chiều cao, các chuyên gia y tế cho biết, có 3 nhân tố phát triển chiều cao là di truyền, dinh dưỡng và vận động. PGS. TS Nguyễn Thị Diệu Thúy cho rằng, để phát triển chiều cao cần sự đan xen, tổng thể của các vấn đề sức khỏe. Đó là một chính sách dinh dưỡng tốt, đầy đủ, chế độ vận động thể dục thể thao hợp lý và có giấc ngủ đủ. Lý giải cho điều này TS Thúy cho biết, giấc ngủ và chính sách vận động sẽ giúp cơ thể sản sinh ra các hormon nâng cao trưởng, mà các hormon nâng cao trưởng sản sinh ra nhiều nhất từ 10 giờ đêm đến sáng. Nên những trẻ thiếu ngủ, ít ngủ sẽ khó đạt chiều cao toàn diện. Bên cạnh đó nếu 1 đứa trẻ mắc các bệnh mạn tính như bệnh thận, tim bẩm sinh hoặc hay ốm, trẻ thường xuyên phải dùng kháng sinh sẽ ảnh hưởng tới chức năng của hệ vi khuẩn đường ruột làm trẻ khó hấp thu chất dinh dưỡng thì cũng không thể cao.

Quan niệm đúng sẽ giúp trẻ cao lớn

Ths Bs Đinh Ngọc Hoa cho biết, nhiều quan niệm sai lầm mà các bậc cha mẹ đã và đang làm khiến con mình không thể phát triển chiều cao ngay từ khi mới sinh ra. Như khi mới sinh ra, các sản phụ thường kiêng khem quá mức cho bản thân và em bé như bộ phận đóng kín, ngột ngạt, không có không khí hay ánh nắng, mẹ ăn thiếu chất, từ đó ảnh hưởng đến chiều cao và cân nặng của trẻ. Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, cha mẹ cũng kiêng gần như như nếu trẻ tiêu chảy kiêng ăn cũng làm trẻ bị thiếu chất. Nhiều mẹ vẫn còn giữ quan niệm hầm nước xương hoặc chân gà để bổ sung canxi, đây là sai lầm phổ biến. Bởi canxi là 1 nguyên tố không tan trong nước, ăn nước hầm xương làm trẻ không bổ sung canxi mà đôi khi còn làm trẻ thiếu chất.

TS Thúy cho rằng, người to chúng ta thường bổ sung canxi quá sớm cho trẻ, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Nếu bổ sung canxi quá nhiều, thóp của trẻ sẽ đóng sớm, trước 12 tháng, điều này sẽ làm não trẻ không phát triển được, làm não nhỏ, khiến bé chậm phát triển sau này. Ths Hoa kể, có trường hợp mới 4 tháng tuổi mẹ đã cho bé uống canxi suốt 2 tháng, những cách uống thuốc không chín xác tương tự làm trẻ mắc thêm các bệnh như táo bón, biếng ăn, chậm lên cân. Nhiều trường hợp còn ngộ độc cả những loại vitamin bổ sung như ngộ độc vitamin D do quá liều, TS Thúy chia sẻ.

Nhiều bậc cha mẹ nghĩ rằng rau xanh, chất xơ không liên quan đến sự phát triển chiều cao của trẻ, nhưng điều này hoàn toàn sai lầm bởi chất xơ giúp cơ thể tăng cường hấp thu canxi, một trẻ đang tuổi dậy thì cần ăn ít nhất 300-400 gam rau xanh và hoa quả mỗi ngày.

Vậy cần bổ sung canxi thế nào cho đúng? Ths Hoa cho biết, nhiều bà mẹ câu hỏi ở sao con uống canxi mãi mà bé không cao, đó là do trẻ uống canxi một thành phần. Muốn nâng cao chiều cao cho trẻ cần chú ý bổ sung bằng các sản phẩm như Vipteen có chứa vitamin K2 (MK7). MK7 sẽ giúp vận chuyển canxi từ máu về xương, đồng thời kích thích nâng cao lượng collagen trong xương. Nhờ đó, MK7 giúp xương phát triển vừa chắc khỏe vừa dẻo dai.

Một sai lầm cũng không hiếm gặp là bố mẹ bổ sung canxi quá nhiều, trong thời gian quá dài cho trẻ, điều này sẽ làm trẻ chán ăn, quấy khóc vào đêm, táo bón. Cha mẹ cần đưa trẻ đi khám bác sĩ dinh dưỡng để bác sĩ tư vấn về cách bổ sung và thời điểm bổ sung canxi để nâng cao chiều cao của trẻ. Ngoài ra, các bậc cha mẹ muốn con bảo đảm đủ dinh dưỡng có thể cho trẻ ăn các thực phẩm giàu canxi như sữa, các chế phẩm của sữa, ăn các loại cua, cá, tôm nên ăn cả vỏ.

Hải Yến

Hạt hạnh nhân, dưỡng chất tuyệt vời bảo vệ tim mạch

Cây hạnh nhân (Prunus dulcis, syn. Prunus amygdalus) là 1 loài cây bản địa từ Trung Đông, Ấn Độ và Bắc Phi.

Quả của hạnh nhân là một quả hạch, bao gồm 1 vỏ bên ngoài và 1 lớp vỏ cứng với hạt giống bên trong. Hạnh nhân được bán còn vỏ hoặc chưa bóc vỏ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy hạt hạnh nhân có ích lợi bảo vệ tim mạch, với các lý do sau :

Hạnh nhân hạ LDL-cholesterol máu và giảm nguy cơ bệnh tim

Một thực phẩm giàu chất béo đó là tốt cho sức khỏe của bạn? Hạnh nhân có nhiều chất béo không bão hòa đơn, một loại chất béo nâng cao cường sức khỏe như được tìm thấy trong dầu ô liu, trong đó có liên quan với giảm nguy cơ bệnh tim. Năm nghiên cứu dịch tễ học lớn, bao gồm the Nurses Health Study, Iowa Health Study, Adventist Health Study và Physicians Health Study, toàn bộ thấy rằng tiêu thụ hạt hạnh nhân liên quan với giảm nguy cơ đối với bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu dữ liệu từ Nurses Health Study ước tính thay thế các loại hạt cho 1 số lượng tương đương của carbohydrate trong chế độ ăn uống hàng ngày dẫn đến giảm 30% nguy cơ bệnh tim. Các nhà nghiên cứu tính toán thậm chí còn kết luận giảm nguy cơ ấn tượng hơn với 45% lúc chất béo lấy từ hạt hạnh nhân thay thế cho các chất béo bão hòa (được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm sữa).

hanh nhan, hat hanh nhan, hanh nhan la duong chat tuyet voi bao ve tim mach

Hạnh nhân là dưỡng chất tuyệt vời chống xơ vữa động mạch

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí dinh dưỡng Anh quốc British Journal of Nutrition chỉ ra rằng khi các loại thực phẩm độc lập được biết tới để giảm cholesterol, như hạnh nhân, được kết hợp trong chính sách ăn uống lành mạnh, là 1 thực phẩm phụ gia có lợi. Trong nghiên cứu của 12 bệnh nhân có mức LDL cholesterol cao, 1 chính sách ăn uống có chứa hạnh nhân và các loại hạt khác, sterol thực vật (cũng được tìm thấy trong các loại hạt), protein đậu nành và chất xơ hòa tan (với số lượng cao trong các loại đậu, yến mạch, lê) làm giảm nồng độ LDL cholesterol (loại mỡ làm tăng nguy cơ cao nhất đối với bệnh tim mạch) với mức giảm tối đa chỉ sau hai tuần.

Vitamin E, magiê, kali trong hạnh nhân phòng bệnh tim, ngừa đau tim và chống xơ vữa động mạch

Ngoài tác dụng làm giảm cholesterol, khả năng hạnh nhân làm giảm nguy cơ bệnh tim cũng có thể 1 phần do tác động chống oxy hóa của vitamin E được tìm thấy trong hạnh nhân, cũng như các tác dụng hạ LDL cholesterol của hạnh nhân (LDL là dạng cholesterol có liên quan tới xơ vữa động mạch và bệnh tim). Khi hạnh nhân được thay thế cho các chất béo truyền thống trong các thử nghiệm chính sách ăn ở người, LDL cholesterol có thể giảm 8-12%.

Ngoài chất béo lành mạnh và vitamin E, 1/4 chén hạnh nhân chứa 62 mg magiê cộng với 162 mg kali.

Magiê là chất “chẹn kênh canxi thiên nhiên”. Khi có đủ magiê, tĩnh mạch và động mạch giãn ra, làm giảm sức đề kháng và cố gắng dòng chảy của máu, oxy và chất dinh dưỡng trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt magiê không chỉ liên quan tới cơn đau tim mà còn làm dễ khởi phát cơn đau tim.

Kali, 1 chất điện phân cần phải có liên quan tới việc dẫn truyền thần kinh và sự co lại của tất cả các tế bào cơ bao gồm cơ tim, là 1 chất rất quan trọng cho việc duy trì huyết áp thông thường và chức năng tim.

Hạnh nhân thúc đẩy sức khỏe tim mạch của bạn bằng cách mang đến 162 mg kali và duy nhất 0,2 mg natri, với cấu trúc này và các tính chất như đã phân tích làm cho hạnh nhân là một sự lựa chọn đặc biệt rất tốt để bảo vệ chống lại bệnh tăng huyết áp và chống xơ vữa động mạch. Hãy thử sử dụng hạt hạnh nhân trong chính sách ăn hàng ngày của bạn.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Whfoods)