Viêm phổi là một trong những nguyên do bậc nhất dẫn tới nhập viện và tử vong ở trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. Trẻ dưới 5 tuổi nhất là là trẻ dưới hai tháng tuổi là nhóm nguy cơ mắc và tử vong do viêm phổi cao nhất. Tại các nước đang và kém phát triển, do điều kiện vệ sinh môi trường thấp, chăm sóc y tế còn kém... nên các vấn đề hô hấp, đặc biệt là viêm phổi trẻ em càng phát triển thành trầm trọng. Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh viêm phổi?
Viêm phổi do phần lớn nguyên nhân, trong đó thường gặp là vi khuẩn, virus, nấm, hóa chất... Để nhận biết được tác nhân nào gây viêm phổi, trên thực tế cũng rất khó phân biệt. Do đó, các bác sĩ lâm sàng thường dựa theo kinh nghiệm, các triệu chứng của trẻ để điều trị. Ngay tại các bệnh viện lớn, bệnh viện tuyến trung ương có bộ phận vi sinh hiện đại và có thể thực hiện các kỹ thuật khó để lấy được bệnh phẩm mang đi xét nghiệm, cấy... nhưng xác suất tìm được tác nhân cũng không cao. Do vậy, dựa vào lứa tuổi của bệnh nhân mà có thể dự đoán tác nhân gây bệnh.
Trẻ trên 5 tuổi thường gặp viêm phổi do các các loại vi khuẩn như: vi khuẩn không điển hình (Mycoplasma Pneumonia, Chlamydia Pneumonia), phế cầu, các loại siêu vi hô hấp...
Trẻ dưới 5 tuổi thường bị viêm phổi và được coi như viêm phổi do vi khuẩn. Thường gặp là: phế cầu, tụ cầu vàng, liên cầu pyogenes, HiB (hemophilus influenza type B). HiB trước đây là một tác nhân cần thiết gây viêm phổi ở trẻ, nhưng sau này do có chương trình tiêm ngừa nên tác nhân này hiện không đáng kể.
Trẻ dưới 2 tháng tuổi thì ngoài các vi khuẩn như trẻ dưới 5 tuổi có thể gặp 1 số vi khuẩn từ đường ruột như: E. Coli, Proteus, Kliebsiella... do mẹ truyền qua.
Hình ảnh phế nang thông thường và phế nang bị viêm.
Những trẻ nào dễ bị viêm phổi?
Trẻ em có sức đề kháng kém, suy dinh dưỡng, trẻ em tại các nước nghèo, điều kiện kinh tế, vệ sinh, chăm sóc y tế kém; trẻ sống trong gia đình đông người hoặc môi trường đông người (nhà trẻ, mẫu giáo); thường xuyên hít phải khói thuốc lá của người lớn, trẻ có các rối loạn vào tim mạch và bệnh lí khác như: có bệnh tim bẩm sinh, loạn sản phế quản phổi (gặp tại trẻ sau sinh phải thở máy, oxy kéo dài), bệnh xơ nang, hen phế quản, suy giảm miễn dịch tế bào, bệnh thần kinh cơ, trẻ bại não, trẻ mắc các rối loạn đường tiêu hóa như bệnh trào ngược dạ dày thực quản, dò quản - thực quản...
Làm thế nào để nhận ra trẻ bị viêm phổi?
Viêm phổi được chia thành hai loại: viêm phổi bệnh viện và viêm phổi cộng đồng. Viêm phổi bệnh viện là do trẻ bị nhiễm tác nhân gây viêm phổi lưu hành trong bệnh viện. Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (CAP).
Nghi ngờ trẻ bị viêm phổi lúc trẻ có: ho (có thể ho nhiều hay ít, ho khan hay đàm), sốt (sốt từ nhẹ đến cao, 1 số ít trường hợp không sốt), thở nhanh.
Trong ba triệu chứng trên thì thở nhanh là cần yếu nhất. Theo tài liệu hướng dẫn mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 27/1/2016, thở nhanh được định nghĩa là lúc trẻ nằm im, không quấy khóc, không sốt, đếm nhịp thở trong vòng 1 phút, gọi là nhanh khi: thở trên 60 lần trở lên với trẻ dưới 2 tháng; trên 50 lần với trẻ 2 - 12 tháng; trên 40 lần với trẻ 1-5 tuổi; trên 20 lần với trẻ từ 5 tuổi trở lên. Ngoài ra, còn 1 số dấu hiệu khác như: khò khè, bú kém, thở co lõm ngực, tím quanh môi...
Tại bệnh viện hay bộ phận khám bác sĩ có thể phát hiện thêm 1 số triệu chứng khác như nghe phổi có tiếng bất thường: rale ngáy, rale rít, rale ẩm, rale nổ....
Cho trẻ nhập viện lúc nào?
Tất cả trẻ dưới 3 tháng có biểu hiện viêm phổi. Trẻ trên 3 tháng viêm phổi và có sốt cao trên 38,5 độ C. Trẻ có biểu hiện hô hấp nguy kịch tại mức độ trung bình tới nặng, như: nhịp thở trung bình trên 70 lần tại trẻ dưới một tuổi, trên 50 lần với trẻ lớn, co lõm lồng ngực, khó thở nặng, thở rên, cánh mũi phập phồng, ngưng thở. Có dấu hiệu tím tái, li bì, bỏ bú, mất nước (mắt trũng, tiểu ít)...
Điều trị và chăm sóc trẻ
Đối với trẻ điều trị ngoại trú, tùy vào tác nhân gây bệnh mà bác sĩ sẽ kê cho loại kháng sinh phù hợp. Nếu bệnh nhi đáp ứng rất tốt với thuốc thì một liệu trình trị liệu kéo dài ít nhất 7- 10 ngày.
Các điều trị hỗ trợ khác: chú ý đến dinh dưỡng, cung cấp đủ nước cho bé thông qua sữa, nước uống trực tiếp, cháo... Theo dõi tình trạng đi tiểu của bé để xem đem đến nước có đủ không. Nếu bé tiểu ít, nước tiểu vàng có thể là do đem đến thiếu nước.
Vệ sinh mũi: thường các trẻ viêm phổi cũng có viêm hô hấp trên kèm theo có thể vệ sinh mũi cho trẻ bằng nước muối sinh lý, hoặc dạng xịt phun sương, lấy nhầy mũi bằng bấc sâu kèn.
Hạ sốt: bé sốt có thể quấy khóc do khó chịu, nếu bé sốt trên 38 độ C mà có biểu hiện khó chịu, quấy thì nên sử dụng thuốc hạ sốt bình thường paracetamol theo hướng dẫn của bác sĩ.
Giảm ho an toàn: các loại siro ho thảo dược không có chống chỉ định, có thể giúp bé dễ chịu hơn.
Làm ẩm không khí trong phòng hỗ trợ niêm mạc hô hấp, tránh nằm máy lạnh ở nhiệt độ quá thấp. Nên thấp nhất là 29 độ.
Tái khám mỗi ngày hoặc mỗi 2 ngày theo chỉ định của bác sĩ.
Khi trẻ phải nhập viện, việc điều trị sẽ bao gồm: hỗ trợ hô hấp (thở oxy, CPAP, thở máy), sử dụng thuốc kháng sinh đường tiêm, chính sách dinh dưỡng, tập vật lý trị liệu theo phác đồ.
Viêm phổi gây biến chứng gì?
Nếu viêm phổi mà điều trị muộn hoặc không chuẩn cách, hoặc vi khuẩn độc lực quá mạnh có thể gây ra các biến chứng, 1 khi biến chứng diễn ra thì việc điều trị phức tạp và nguy cơ tử vong cao. Các biến chứng có thể diễn ra là: tràn dịch, tràn mủ, tràn khí khoang màng phổi; viêm phổi hoại tử, apxe phổi; kén khí phổi; hạ natri máu.
Cách nào phòng ngừa viêm phổi?
Để dự bộ phận viêm phổi nói chung, cần nâng cao sức đề kháng của trẻ thông qua việc phân phối dinh dưỡng đầy đủ, cho ăn đúng và đủ theo hướng dẫn của chuyên gia dinh dưỡng. Thường xuyên theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ để biết được tình trạng dinh dưỡng của con. Ngoài ra, cần nỗ lực môi trường sống, để tránh cho trẻ tiếp xúc với các nhân tố nguy cơ, như: nhà ở phải thoáng mát, liên tục vệ sinh nhà sạch sẽ, không để trẻ tiếp xúc môi trường có khói thuốc, hạn chế việc tiếp xúc với người có biểu hiện bệnh ở đường hô hấp (ho, sốt...).
Vệ sinh mũi họng: ví dụ trẻ đã biết súc miệng, thì cho trẻ súc họng bằng nước muối sinh lý, nhỏ nước muối sinh lý sau lúc đi ngoài đường tiếp xúc với khói bụi, cần mang khẩu trang cho trẻ để tránh hít phải bụi đường.
Phòng ngừa đặc hiệu: điều trị bệnh nền nếu như có, như suy dinh dưỡng, bệnh trào ngược dạ dày thực quản , bệnh tim bẩm sinh... Tiêm bộ phận đầy đủ, đặc biệt chú ý các mũi tiêm phòng lao, sởi HiB, phế cầu, cúm.
BS. Trần Công






0 nhận xét:
Đăng nhận xét